
(cg. doanh nghiệp nhà nước), bộ phận thuộc thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, tồn tại trên cơ sở sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất do nhà nước xã hội chủ nghĩa nắm và giao cho các đơn vị kinh tế tổ chức kinh doanh và giao cho các bộ, các ủy ban nhân dân (tỉnh - thành phố trực thuộc trung ương) quản lí. Được hình thành chủ yếu trên cơ sở nhà nước đầu tư xây dựng những doanh nghiệp quan trọng có ý nghĩa then chốt mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện đầu tư kinh doanh (trong công nghiệp nặng, giao thông vận tải, xây dựng, thương nghiệp, xuất nhập khẩu, ngân hàng...); và một phần lúc đầu bằng quốc hữu hoá những xí nghiệp lớn của thực dân, tư sản mại bản, địa chủ theo các hình thức khác nhau. "KTQD hiện đang nắm những bộ phận then chốt, có vị trí chi phối nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thị trường và giá cả ở mức độ nhất định" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII). Năm 1999, KTQD (nhà nước) chiếm 38,7% tổng sản phẩm trong nước; công nghiệp quốc doanh chiếm 39,5% giá trị tổng sản lượng công nghiệp; thương nghiệp quốc doanh chiếm 18,6% trong tổng mức bán lẻ của thương nghiệp xã hội (Niên giám thống kê 2000). KTQD giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Trong những thời kì phát triển kinh tế trong chiến tranh và khôi phục kinh tế sau chiến tranh, có xu hướng phát triển KTQD ồ ạt. Khi tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trên cơ sở các nguyên tắc kinh tế xã hội chủ nghĩa, "khu vực KTQD được sắp xếp lại được đổi mới công nghệ và tổ chức quản lí. Kinh doanh có hiệu quả hơn, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chỉ đạo và chức năng của một công cụ quản lí vĩ mô của nhà nước". Một số đơn vị không cần giữ hình thức quốc doanh thì được cổ phần hoá, hoặc được chuyển sang các thành phần kinh tế tư nhân, tập thể; một số đơn vị phải giải thể, đồng thời, một số đơn vị được tập trung hoá thành những tổng công ti với quy mô lớn.